Bài viết “Trước kỳ thi ĐH, CĐ: Láo nháo chợ “phao” trên Dân trí điện tử ngày 30/6/2008 phản ánh thực trạng “chợ phao thi” vẫn đang hoạt động một cách mạnh mẽ, ráo riết, người bán “phao” vẫn khẳng định việc quay cóp là “tuyệt đối bí mật” và “quay được là đỗ chắc” khiến chúng tôi ngạc nhiên và trăn trở. Thực trạng này cho thấy một số vấn đề đáng lưu ý sau:
- Thứ nhất, tinh thần của cuộc vận động “Hai không” chưa thực sự được quán triệt, thấm nhuần trong một bộ phận giáo viên, học sinh và nhân dân. Mặc dù cuộc vận động “Hai không” đã bước vào năm thứ hai và đã “đi vào thực chất” theo như đánh giá của Bộ GD-ĐT song mức độ nhộn nhịp, ráo riết của các chợ phao thi là một “phản biện” mạnh mẽ cho đánh giá này. Nếu thực sự tinh thần cuộc vận động “Hai không” đã được thấm nhuần thì chắc hẳn có cho không “phao” học sinh cũng chẳng lấy vì tất cả các em đều biết không thể sử dụng được nữa. Mặt khác, phát huy tinh thần “Hai không”, đáng lẽ ra học sinh phải coi việc mua “phao”, dùng “phao” trong thi cử là một việc làm mất tư cách đáng xấu hổ, nhất là trong cuộc thi tuyển chọn những người đủ trình độ và tư cách vào đại học. Thế nhưng, thực tế thật đáng buồn, và vì vậy các nhà trường, cơ sở giáo dục, các nhà giáo cần xem lại mình đã giáo dục học sinh như thế nào về cuộc vận động “hai không”. Sự lỏng lẻo về qui chế trong kì thi tốt nghiệp THPT vừa qua ở một số địa phương (những bức ảnh “phao thi” trắng xoá sân trường, tỷ lệ tốt nghiệp của một số tỉnh tăng “đột biến”…) khiến cho học sinh vẫn có tâm lý ỷ lại vào tài liệu quay cóp khi thi cử.
|
Bài viết tranh luận của bạn về vấn đề này xin gửi đến Diễn đàn Dân trí qua địa chỉ e-mail: thaolam@dantri.com.vn |
- Thứ hai, tinh thần dạy học sáng tạo, phát huy tính độc lập suy nghĩ của học sinh-một trong những mục tiêu quan trọng của nền giáo dục, chưa thực sự hiệu quả. Việc học sinh nhộn nhịp mua “phao” là hậu quả của lối dạy học đọc-chép, dạy tủ, học tủ khiến học sinh ghi nhớ máy móc, chỉ biết bắt chước theo những kiểu mẫu có sẵn, không nắm chắc, làm chủ được kiến thức, kém độc lập, sáng tạo.
Mặt khác, cũng cần xem lại khâu ra đề thi của Bộ GD-ĐT. Nếu đề thi nặng về yêu cầu tái hiện, và thường “na ná’’ nhau qua các năm rất dễ dẫn đến việc học tủ, dùng tài liệu khi thi, nhất là đề thi của các môn khối khoa học xã hội. Giở lại đề thi tuyển sinh vào đại học môn Văn mấy năm gần đây, hầu như chỉ khai thác những tác phẩm, vấn đề quen thuộc, cách đặt câu hỏi, nêu yêu cầu cũng có nhiều chỗ trùng lặp. Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học, thi cử và thay đổi những thói quen đã “thâm căn cố đế” để nâng cao chất lượng giáo dục đang là một yêu cầu bức thiết, một thử thách to lớn của ngành giáo dục trong thời đại hội nhập.
- Thứ ba, cần xem lại qui trình đào tạo đại học. Hiện nay, vẫn còn những trường đại học khá chặt chẽ trong khâu thi tuyển nhưng lại có phần “dễ dãi” trong quá trình đào tạo. Hầu như mọi học sinh đều có tâm lý đã “mua vé lên tàu là sẽ đến ga”, đã thi đỗ là sẽ có tấm bằng tốt nghiệp đại học, thậm chí là thạc sĩ, tiến sĩ. Ở một số trường đại học trên thế giới, người ta chỉ cần ghi tên là được vào học, nhưng khâu sàng lọc lại vô cùng chặt chẽ, nghiệt ngã vì vậy buộc sinh viên phải nỗ lực rất cao mới có được tấm bằng, và kết quả là có được những cử nhân có khả năng thực chất.
Ở Việt Nam hiện vẫn có những trường ít chú trọng khâu sàng lọc, chỉ tuyển sinh theo chỉ tiêu đào tạo đã được phê duyệt. Vì vậy, nhiều học sinh có tâm lý “cố sống cố chết” để thi đỗ, thậm chí dùng những thủ đoạn bất minh, sau đó tìm mọi cách “trụ lại” rồi thế nào cũng có bằng. Không có chủ trương sàng lọc mạnh mẽ, môi trường học tập không có tính cạnh tranh cao nên có không ít sinh viên lười nhác, chểnh mảng học tập, sa đà vào các trò giải trí và tất nhiên là có kết quả học tập yếu kém.
Thực trạng sinh viên lười học, ham chơi và hậu quả của nó là những cử nhân, kĩ sư mới ra trường chất lượng “trời ơi đất hỡi” đã được báo chí phản ánh nhiều rất cần được lãnh đạo Bộ GD-ĐT và hiệu trưởng các trường đại học suy nghĩ. Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, năm 2006, có đến 37% sinh viên ra trường không tìm được việc làm, chủ yếu là vì “yếu kiến thức, thiếu kĩ năng, mơ hồ về mục tiêu nghề nghiệp…” như nhận định của một nhà tuyển dụng, thậm chí có ý kiến cho rằng kĩ năng của nhiều sinh viên là “con số không”. Báo Dân trí ngày 27/4/2008 cho biết chỉ có 15% sinh viên ra trường đáp ứng được yêu cầu việc làm và nhiều doanh nghiệp phải rất tốn kém để đào tạo lại số sinh viên đã được tuyển dụng. Xin nêu một con số để so sánh: tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm của trường Đại học Công nghệ Bắc Kinh (Trung Quốc) là 98%.
Nếu chúng ta xây dựng được một môi trường đào tạo đại học có tính sàng lọc, cạnh tranh thì các hiện tượng tiêu cực trong khâu tuyển sinh sẽ giảm đi nhiều, bởi vì ai học lực yếu thì sớm muộn cũng bị loại. Vì vậy, các trường cần gấp rút xây dựng cơ chế sàng lọc trong đào tạo, cụ thể là tuyển sinh nhiều hơn chỉ tiêu đào tạo một tỷ lệ nhất định, sau đó sẽ sàng lọc dần. Việc đó sẽ tạo cho sinh viên tâm lý sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh. Nếu làm được như vậy, những học sinh năng lực quá yếu có “cho kẹo” cũng không dám bước vào giảng đường đại học và hiện tượng “dùng phao” trong thi cử sẽ tự triệt tiêu.
Hiện nay, trong đào tạo đại học vẫn tồn tại không ít “mảng tối” rất cần được mạnh tay xoá bỏ: hiện tượng “mua” điểm, “xin” điểm, hiện tượng tập thể lớp đưa quà cáp, phong bì đến nhà giảng viên để được “giúp đỡ”, “nới tay”, hiện tượng dễ dãi trong khâu chấm, xét luận văn, đồ án, luận án… Hiện tượng này đặc biệt phổ biến trong lĩnh vực đào tạo không chính quy, đang là một “vấn nạn” nhức nhối. Mặt khác, chất lượng giảng viên không đồng đều, có không ít giảng viên không tham gia nghiên cứu khoa học, ít đọc tài liệu, cập nhật thông tin khoa học, phương pháp dạy học rất ít được đổi mới, rồi sự thiếu thốn về tài liệu, thiết bị phục vụ công tác học tập, nghiên cứu…Hiện tượng các trường đại học mới được thành lập với tốc độ phi mã càng khiến cho chất lượng giảng viên bị “loãng”… Những tồn tại đó nếu khắc phục chậm và không triệt để thì chưa thể nâng cao được chất lượng giáo dục đại học.
- Thứ tư, từ hiện tượng “chợ phao”, có ý kiến cho rằng cần xem lại khâu coi thi tuyển sinh. Theo chúng tôi, khâu coi thi đại học của chúng ta trong hàng chục năm trở lại đây đã coi trọng sự nghiêm túc, chặt chẽ và ngày càng tiến tới hoàn thiện. Với quyết tâm của Bộ GD-ĐT và các trường đại học, với sự nghiêm cẩn của các giám thị, có thể khẳng định rằng hầu như thí sinh không thể sử dụng được tài liệu, cho dù có “tinh quái” đến đâu. Có thể vẫn còn một số “kẽ hở” nào đó trong khâu coi thi, song chúng tôi cho rằng chỉ là cá biệt và tiến tới sẽ bị triệt tiêu. Vậy tại sao các em vẫn mua “phao”, vẫn mang vào phòng thi? Theo chúng tôi, đó chỉ là kết quả của tâm lý “ăn may” của một số học sinh không nắm chắc kiến thức nên mua phao với suy nghĩ “cứ đưa vào, rồi tuỳ cơ ứng biến, nếu có cơ hội thì sử dụng…”. Vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục học sinh cần được đẩy mạnh hơn nữa, làm sao để mọi học sinh và phụ huynh đều hiểu rằng “không thể sử dụng tài liệu” và nên dành tiền bạc, thời gian để đầu tư cho việc học bài, ôn bài. Và khi niềm tin ấy được xác định qua các năm, các “chợ phao” sẽ “không đánh mà tự tan”. Còn nếu không, cho dù các cơ quan chức năng có quyết tâm đến đâu, việc xoá bỏ triệt để các “chợ phao” vẫn là một việc hết sức khó khăn.
Mong rằng đến kì thi các năm sau, người dân không còn phải nghe nói đến cảnh hoạt động “ngang tai trái mắt” của các “chợ phao” nữa.
Trần Quang Đại
(Giáo viên trường THPT Trần Phú, Đức Thọ, Hà Tĩnh)
LTS Dân trí - “Chợ phao thi” vẫn còn xuất hiện trước kỳ thi đại học năm nay cũng có thể coi hiện tượng bất thường, một “chuyện lạ” đáng quan tâm và đáng bàn.
Tác giả viết bài trên đây đã phân tích hiện tượng đó và đưa ra một số nguyên nhân, trong đó có nhấn mạnh chất lượng giáo dục đại học, nhất là sự thiếu sàng lọc nghiêm túc của không ít các trường đại học, tạo ra cho các thí sinh “một hy vọng ảo” là cố gắng tìm mọi cách để “lọt lưới” vào được đại học là sẽ yên tâm có được tấm bằng đại học. Điều này có chuẩn xác không, xin để cho “người trong cuộc” trả lời.
Dù sao sự tồn tại của “chợ phao thi” là một lời cảnh báo đối với cuộc vận động “hai không’ trong ngành giáo dục. Điều đó cho thấy cuộc vận động này còn phải tiếp tục bằng những biện pháp đồng bộ, mạnh mẽ và triệt để hơn trong năm học tới, trước mắt là tổ chức thật nghiêm túc kỳ thi đại học và cao đẳng năm nay.